Điểm Tin Cập Nhật

0
Hằng ngày, tôi vẫn vào các tờ báo mạng ở trong nước, từ lề phải đến lề trái, để đọc tin. Có điều, hầu như chưa bao giờ tôi mở các bản tin về những chuyện như “tâm linh” hay “ngoại cảm”. Với tôi, chúng đều thuộc loại nhảm nhí, không đáng mất thì giờ: vô ích, hơn nữa, còn có thể gây cảm giác bức bối khó chịu: vô duyên. Vậy mà, tình cờ, sáng nay, một người bạn lại hỏi tôi về “Cậu Thủy”. Tôi ngơ ngác, không biết gì cả. Anh mới kể vắn tắt về các “thành tích” của “cậu”. Thấy thú vị, về nhà, tôi vào internet để… làm quen với “cậu”.

“Cậu” tên thật là Nguyễn Văn Thúy, quê ở thị trấn Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh, sinh năm 1959, năm nay 54 tuổi. Trước, “cậu” làm công an; sau, không biết vì lý do gì, “cậu” về làm dân. Quen thói cũ, làm dân, “cậu” cũng không chịu sống một cách lương thiện: Cậu tàng trữ vũ khí quân dụng và lừa đảo hết người này đến người khác. “Cậu” và vợ “cậu” bị bắt và ở tù hơn 10 năm. Được thả về, mấy năm sau, “cậu” bỗng nổi tiếng là một nhà ngoại cảm xuất sắc và càng ngày càng giàu.

Cái giàu của “cậu” có thể nhìn thấy ngay ở ngôi nhà “cậu” ở: Nhà ba tầng, xây theo kiểu biệt thự, trên nóc có hai con rồng chầu; trước cổng, có hai bức tượng sư tử bằng đá trắng lớn sừng sững rất uy nghi. Trong nhà, nghe nói, các vật dụng đều thuộc loại đắt tiền.

Tiền ấy từ đâu ra?

Trước hết là từ khách hàng của cậu, những người muốn tìm hài cốt hoặc mồ mả của thân nhân. Suốt mấy chục năm chiến tranh, số người chết mà không tìm thấy xác hoặc xác bị vùi vội vã đâu đó trong rừng hoặc trên đồng hoang khá nhiều. Sau chiến tranh, một số người bị tù hoặc bị cải tạo chết và bị lấp dối giá đâu đó dưới lớp đất nông cũng không ít. Thân nhân những kẻ bất hạnh ấy không ngừng tìm kiếm. Cách tìm kiếm được báo chí trong nước quảng cáo nhiều nhất là nhờ các nhà ngoại cảm, trong đó, có “Cậu Thủy”.

Nghe nói khách hàng của “cậu” đông đến độ, lúc nào cũng nườm nượp; nhiều người, muốn gặp cậu, phải ăn chực nằm chờ trước nhà “cậu” cả đến mấy ngày trời. Khi gặp, “cậu” yêu cầu ghi tên người chết muốn tìm để “cậu” gọi âm binh tìm kiếm hoặc nhờ “Mẫu” chỉ giúp.  Sau khi đã được “âm binh” báo cáo, “cậu” cho thuê xe chở gia đình khách hàng đi tìm mộ. Toàn bộ chi phí xe cộ và tài xế cho chuyến đi, khách hàng phải trả, khoảng năm bảy chục triệu. Cuối cùng, sau khi tìm được mộ thân nhân rồi, khách lại phải “hậu tạ” cho “cậu” một số tiền nữa. Nói chung, theo dư luận, muốn đến gặp “cậu”, người ta phải chuẩn bị ít nhất là 150 triệu đồng!

Thứ hai, một số cơ quan nhà nước cũng nhờ “cậu”, trong đó, được đề cập đến nhiều nhất là Ngân hàng Chính sách Xã hội. Cơ quan này đã nhờ “cậu Thủy” tìm kiếm hài cốt và mồ mả của các liệt sĩ. Dĩ nhiên là “cậu” làm được ngay. Tổng cộng, “cậu” tìm được 105 bộ hài cốt; mỗi bộ, được trả 75 triệu đồng; như vậy, “cậu” bỏ túi cả thảy được 7.9 tỉ đồng (khoảng gần 400.000 đô la). Các hài cốt được “cậu” tìm, sau đó, được mang về cải táng trong Nghĩa trang liệt sĩ các tỉnh một cách long trọng để mọi người thấy rõ là đảng và chính phủ không hề quên ơn những người con đã hy sinh thân mình cho… cách mạng!

Nhưng mới đây, một số nhà báo, sau nhiều năm âm thầm điều tra, đã tiết lộ một sự thật khủng khiếp: những cái gọi là hài cốt ấy chỉ là xương heo hay xương bò mà “cậu” Thủy đã thuê người chôn sẵn. Chưa hết. “Cậu” còn khôn ngoan chôn theo một số bình tông (“bidon”, bình đựng nước) có khắc tên nguệch ngoạc cũng như một số đôi dép cao su. Có điều phần lớn các bình tông cũng như dép cao su ấy còn khá mới. Nhưng không sao. Ngân hàng Chính sách Xã hội vẫn nhắm mắt trả tiền cho “cậu”. Miễn là có cái xương nào đó mang về cải táng trong Nghĩa trang liệt sĩ để thân nhân của họ an tâm và đồng bào khắp nơi đến thắp nhang kính vái!

Trước những sự thật được vạch trần không thể chối cãi được đó, ngày 28 tháng 10 vừa qua, công an đã đến còng tay “cậu Thủy”. Những ngày sau đó, báo chí khắp nơi nhao nhao chửi bới “cậu” là nhà ngoại cảm dỏm (ý là có những “nhà ngoại cảm” thật?).

Riêng tôi, đọc, tôi lại thấy thương “cậu”. Đương nhiên là “cậu” có lỗi, trước hết và chủ yếu là có lỗi với thân nhân những người đã chết. Những người ấy chắc phải thương bố/mẹ/chồng/vợ/con của mình lắm nên trong bao nhiêu năm không ngừng tìm kiếm; đến khi cầm được bộ xương heo/bò ngỡ là hài cốt của người thân, hẳn họ mừng rỡ vô cùng. Đến lúc nhận ra được sự thật, không biết họ sẽ đau đớn đến độ nào? Nhưng dù vậy, tôi vẫn thương “Cậu Thủy” vì, nghĩ cho cùng, tội của “cậu” cũng chả có gì đặc biệt.
Ở Việt Nam, trong thế kỷ 20 vừa qua, có một “nhà ngoại cảm” khác lừa dối nhiều người và nhận được nhiều tiền thưởng bất chính hơn “cậu Thủy” nhiều: Đó là “Cậu Hồ”.

“Cậu Hồ” cũng có tài sai khiến rất nhiều âm binh. “Cậu” cũng có “Mẫu” chỉ vẽ từng đường đi nước bước. “Cậu” cũng đem nhiều xương heo, xương bò, xương chó… ra lừa dân chúng để mọi người tin đó là thánh tích hay xá lợi của các bậc thần linh rồi sì sụp cúi lạy. “Cậu Thủy” chỉ làm 105 bộ hài cốt liệt sĩ giả; “cậu Hồ” chế tạo không những hài cốt liệt sĩ giả mà cả hài cốt quốc tổ giả và thần thánh giả; không những chỉ quy tập trong các nghĩa trang mà còn dựng sừng sững trong các cung điện, lâu đài, dinh này phủ nọ hết sức lộng lẫy và nguy nga. Nhiều bộ xương đến bây giờ vẫn còn ngọ nguậy và phóng uế tùm lum. “Cậu Thủy” chỉ lừa được một dùm người trong có sáu năm; “Cậu Hồ” thì lừa được cả thiên hạ trong gần một thế kỷ.

“Cậu” nào cũng dỏm. Nhưng nghĩ cho cùng, so với “cậu Hồ”, “cậu Thủy” chỉ là một thằng nhóc khôn lỏi. Có gì mà phải làm ầm ĩ chứ? Thôi, tha cho “cậu” ấy đi mấy bạn công an ạ.
Đồng môn và đồng chí với nhau cả mà.


Blog / Nguyễn Hưng Quốc - VOA

0
"... các ông các bà có hiểu rằng nếu các ông các bà tiếp tục có thái độ thờ ơ với dân với nước như những ngày vừa qua thì chính người dân Việt Nam, trong đó có cả các đảng viên cộng sản như chúng tôi sẽ vùng lên, sẽ không để cho các ông các bà làm trò hề tổ chức đại hội đảng thêm một lần nữa, sẽ không có đại hội lần thứ 12 nữa đâu! Người dân Việt Nam sẽ không cho phép các ông các bà tiếp tục tham ô của quá khứ và ăn cắp của tương lai."
--------------
Thư của Lê Trấn Gia


Hà Nội ngày 28 tháng 10, 2013
Kính gửi:  Ông Tổng bí thư
Đồng kính gửi: 175 ông bà ủy viên ban chấp hành TƯ Đảng CS Việt Nam

Chi bộ đảng chúng tôi bao gồm những người cựu chiến binh, cựu thanh niên xung phong, cựu cán bộ viên chức, trong số chúng tôi, có người đã từng tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Nhiều người trong chúng tôi đã để lại trên chiến trường năm xưa một phần xương máu của mình. Trong chi bộ của chúng tôi cũng có không ít người từng được nhân dân gọi là “quan chức cao cấp”. Chi bộ hưu trí của chúng tôi sinh hoạt định kỳ hàng tháng theo đúng chỉ đạo của đảng ủy cấp trên, và chúng tôi cũng tranh thủ các buổi sinh hoạt đảng để được trao đổi với nhau về con người, thời cuộc, về đất nước Việt Nam yêu dấu.
Thưa các ông các bà, thừa nhận rằng trong rất nhiều năm, các đảng viên chúng tôi đã từng khá bằng lòng với cuộc sống của mình, đã nhìn nhận quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa của đất nước mình là một quá trình tất yếu. Trong một thời gian dài chúng tôi khá vui mừng với sự cải thiện rõ rệt trong đời sống vật chất và tinh thần, không những của các đảng viên trong chi bộ chúng tôi, mà nhìn chung trong phạm vi toàn xã hội. Về vật chất, thay vì ăn no mặc ấm là ăn ngon mặc đẹp, là tiện nghi sinh hoạt đầy đủ, hiện đại. Về tinh thần, đời sống tinh thần ngày càng được cải thiện, nhiều người dân, đã có thể thông qua các phương tiện hiện đại, tiếp cận tới các giá trị tinh thần đủ loại, không chỉ trong phạm vi đất nước, mà còn trong phạm vi trên toàn thế giới. Tầm nhìn được mở rộng, kiến thức được nâng cao…Phải thừa nhận rằng, so sánh với cuộc sống trong thời kỳ chiến tranh hay thời bao cấp, thì cuộc sống hiện nay đã có sự khác biệt rất lớn. Bộ mặt đất nước đã có nhiều thay đổi mạnh mẽ. Các đô thị và nhiều vùng nông thôn đã được đổi thay theo hướng hiện đại, văn minh…v.v.
Trong một thời gian dài, chúng tôi đều có nhận định chung là có thể lúc nọ lúc kia, trong bộ máy của Đảng nhà nước tuy cũng có những sai lầm, thiếu sót, nhưng thành quả đạt được là không thể chối cãi, và chúng tôi có thói quen cho đó là nhờ sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của đảng…Và dường như hầu hết chúng tôi đều thỏa mãn và đồng tình với cách tuyên truyền, huấn thị của TƯ đảng về việc triển khai đường lối của đảng vào cuộc sống. Đa số chúng tôi đều không có nhiều thắc mắc với tiến trình đổi mới của đất nước, đặt lòng tin rất nhiều về sự thành công của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Chúng tôi đã từng tự hào là đảng viên đảng cộng sản!
Thưa các ông các bà, trong một vài năm gần đây, tình hình kinh tế, xã hội của đất nước có nhiều biến động theo chiều hướng tiêu cực. Với những nguồn thông tin khách quan và rộng lớn mà chúng tôi thu thập được trong nước và trên thế giới, thì chợt nhận ra rằng, chúng ta đã tự ru ngủ nhau trong một thời gian quá dài. Hệ quả là chúng tôi với tư cách đảng viên cộng sản, đã tự cho phép mình làm quen với các tệ nạn nhũng nhiễu, tham nhũng xảy ra trong xã hội. Cứ bất kỳ ở đâu cán bộ có quyền là chỗ đó có tiêu cực. Các khái niệm phong bì, phong bao, lót tay dường như là một sinh hoạt không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngay, trong việc xin cho, kể cả những việc xin cho đã được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật, pháp quy. Từ công an giao thông đến thuế vụ, môi trường, từ hải quan đến bệnh viện, đến trường học… hầu hết các nơi giải quyết chế độ chính sách, đâu đâu cũng phải “bồi dưỡng”, phải “bôi trơn”. Mọi người dân trong đó có các đảng viên chúng tôi dần quen với các hiện tượng này và đã trở thành những kẻ đồng lõa cho các hành vi hối lộ, tham nhũng.
Nhưng thưa các quý vị, đến những năm gần đây, khi các hiện tượng tiêu cực tham nhũng đã trở thành những đại dịch, khi tình hình kinh tế, đạo đức xã hội có biểu hiện xuống cấp nghiêm trọng thì những người đảng viên chúng tôi mới dường như bừng tỉnh, tự hỏi chúng ta đang ở đâu? Vị trí nào trên thế giới? Chúng ta là ai? Và đang làm những gì?...
Sự thật phũ phàng làm chúng tôi dần tỉnh ngộ khi biết rằng đất nước đang tụt hậu nhanh chóng về mọi mặt kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật, …so với các nước khác trong khu vực. Sự tụt hậu này rõ ràng không thể đổ lỗi cho chiến tranh, và cũng không thể đổ lỗi cho ảnh hưởng tư duy bao cấp của ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa của các nước đàn anh như Liên Xô, Đông Âu. Họ đã bị sụp đổ gần 30 năm nay rồi. Chúng tôi thật sự đau xót khi không thể phủ nhận nguyên nhân của hiện tượng tụt hậu này chính là bắt nguồn ở những đảng viên chúng ta, không loại trừ những đảng viên đã về hưu như chúng tôi, những người tự coi là lực lượng tiên phong trong xã hội. Trước tiên, chúng tôi xin đưa ra những nhận định chủ quan của chúng tôi, về từng lĩnh vực quan trọng nhất trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước để chúng ta suy xét một cách khách quan nhưng thẳng thắn hiện trạng mà chúng ta đang đối mặt:
1.     Về kinh tế
Theo thông tin từ nguồn tin chính thức của những nhà nghiên cứu của Đảng và nhà nước thì kinh tế Việt Nam hiện nay đang ở mức độ phát triển ngang với Singapore những năm 60 thế kỷ trước, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore (theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới) …. Nền công nghiệp chủ yếu vẫn ở mức độ gia công, chế biến thô sơ, lấy công làm lãi là chính. Về nông nghiệp, khai khoáng, chủ yếu vẫn là xuất hàng thô, hàm lượng giá trị gia tăng rất thấp, năng suất lao động bình quân xã hội là thấp. Cơ cấu nền kinh tế mất thăng bằng, lệch lạc, không bền vững, khả năng cạnh tranh của nên kinh tế thấp.
2.     Đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, các tệ nạn xã hội ngày càng phức tạp, tội phạm gia tăng, đạo đức ứng xử giữa con người với con người xuống cấp nghiêm trọng. Hình ảnh của người Việt Nam ngày càng xấu đi trước con mắt của bạn bè quốc tế, thậm chí trở thành vấn nạn của một số quốc gia khu vực như hiện tượng người Việt bỏ trốn, làm ăn phi pháp ở nước ngoài, người Việt ăn cắp, ăn trộm, làm nghề mại dâm phi pháp diễn ra tràn lan, đến mức độ nhiều cửa hàng nơi công cộng như ở Nhật, ở Hàn Quốc đã phải viết những biển cảnh báo bằng tiếng Việt! Điều này trở thành vết nhơ vô cùng đáng xấu hổ, không những đối với người đang sống như chúng ta mà còn làm ô uế đối với cả tổ tiên, cha anh, những người đã khuất. Văn hóa thì thiếu định hướng quy hoạch, phát triển theo kiểu xô bồ, ngẫu hứng, thua kém tụt hậu so với hầu hết các nước trong khu vực.
Về an ninh trật tự an toàn xã hội thường xuyên xảy ra các vụ việc nổi cộm, khiếu kiện đông người, xung đột tranh chấp đất đai, thương nhân Trung Quốc thả sức vào lũng đoạn thị trường cài bẫy làm hại nền sản xuất, rối loạn đời sống của người dân , gây biết bao những hệ lụy, ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân, trật tự và an ninh xã hội ở khắp nơi khắp chốn. Các tổ chức tội phạm hoành hành nhiều nơi. Tham nhũng đã trở thành một vấn nạn ngày càng nguy hại đối với đất nước. Đã qua biết bao kỳ đại hội Đảng, biết bao kỳ họp ban chấp hành TƯ, biết bao nghị quyết của TƯ đảng, của chính phủ, hiện tượng tham nhũng không những không được đẩy lùi mà còn ngày càng phát triển và thấm sâu vào mọi ngóc ngách của xã hội, từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất. Hiện tượng tham nhũng đã tạo ra một lối sống khá đặc thù của đất nước trong nhũng năm gần đây và là nguyên nhân của rất nhiều hiện tượng tiêu cực khác. Nó hủy hoại mọi thứ, từ kinh tế, đến đạo đức, đến văn hóa, đến an ninh quốc phòng…Hiện tượng chạy chức chạy quyền cũng là hệ quả tất yếu của tham nhũng. Có tham nhũng mới có chạy chức chạy quyền và ngược lại. Để được thăng chức, lên chức cũng mất tiền, ngay cả để xin được những vị trí có thể bắt nạt được dân là mất tiền, từ chân nhân viên văn phòng phường xã, đến vị trí của cảnh sát giao thông đứng đường cho đến thuế vụ, hải quan, vị trí nào càng dễ bắt nạt dân thì càng mất nhiều tiền để có được xuất làm việc. Các hợp đồng lớn nhỏ, đặc biệt lấy nguồn từ kinh phí ngân sách đều bị phết phẩy phần trăm. Theo chúng tôi biết, các hợp đồng đầu tư công cho các công trình cơ sở hạ tầng ở cấp địa phương và TƯ đều phải cộng tiêu cực phí ở mức độ 30% trở lên. Mọi khoản mua sắm trang thiết bị máy móc đều bị kê giá. Và động lực từ khoản phết phẩy đã đẩy nhiều đầu tư công vào lãng phí tiêu cực, hiện tượng chạy ngân sách trở nên phổ biến. Kính thưa các quý vị việc này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư, từ công trình lớn đến công trình nhỏ, đến năng xuất lao động, đến tài sản quốc gia … nhưng đặc biệt làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước và hủy hoại nhanh chóng tới kỷ cương, tới đạo đức xã hội và cả hệ thống chính trị. Hậu quả sẽ rất nặng nề và lâu dài, triệt tiêu mọi sinh lực, nguyên khí của đất nước. Thí dụ trong báo cáo của chính phủ trước quốc hội trong kỳ họp Quốc hội khóa 13 có nêu ra con số nợ xấu trong ngành ngân hàng là khoảng trên 200 nghìn tỷ, nhưng chúng tôi nghe ý kiến từ một quan chức “dày dặn kinh nghiệm” đang tham dự kỳ họp Quốc hội này đưa ra nhận định một cách tưng tửng rằng con số khổng lồ này hoàn toàn không đáng ngại, có gấp đôi như thế vẫn không đáng ngại! Ông ta nhận định: “Người ta có thể giải quyết nhanh gọn trong vòng một vài năm khoản nợ xấu này bằng cách các ông to bà lớn, các nhóm lợi ích chỉ cần dành một nửa số tiền tham nhũng mà họ thu hoạch được theo thông lệ thì chỉ sau 1 đến 3 năm toàn bộ nợ xấu của VN sẽ được xử lý hết, vì đa số nợ xấu là do nhóm lợi ích gây ra, bao gồm các tập đoàn nhà nước và các nhóm lợi ích tư nhân đang được các quan chức lớn của đảng và nhà nước đứng đằng sau hỗ trợ bảo kê. Ngay cả tình trạng đóng băng bất động sản và hiện tượng trì trệ trong một số ngành sản xuất, đối với các nhóm lợi ích, cũng chỉ là hiện tượng nhất thời. Họ hoàn toàn có thể xoay chuyển được, khi mà các vị quan chức cấp cao của Đảng và nhà nước chống lưng cho các nhóm lợi ích này bằng cách tiếp tục hỗ trợ họ tham gia vào việc sử dụng các khoản đầu tư công dưới hình thức nhận thầu, đấu thầu hình thức ….một khi mà chính phủ xoay sở được tiền !.”
Mặc dù tiêu cực, tham nhũng lan tràn như vậy, nhúng chúng tôi vẫn muốn đánh giá thật công bằng các thành quả do chính sách của đảng và nhà nước mang lại. Xem cái gi tốt thì giữ lại, cái gì xấu phải loại bỏ.
Song, lại một lần nữa, chúng tôi giật mình khi một thành viên trong chi bộ chúng tôi, vốn là cán bộ chủ chốt của ngành thống kê, đưa ra một con số là tổng số nợ công và tổng đầu nước ngoài trực tiếp và gián tiếp trong vòng khoảng 20 năm vừa qua như sau :
-        ODA không hoàn lại:  6,67  tỷ đô la Mỹ
-        Vay ODA ưu đãi: 30,83 tỷ đô la Mỹ
-        Các khoản vay ưu đãi từ nước ngoài: 21,27 tỷ đô la Mỹ
-        Các khoản vay được chính phủ bảo lãnh: 14 tỷ đô la Mỹ
-        Trái phiếu địa phương: 0,7 tỷ đô la Mỹ
-        Tổng dư nợ của doanh nghiệp nhà nước: 62 tỷ đô la Mỹ
-        Tổng đầu tư nước ngoài FDI: 222 tỷ đô la Mỹ
-        Đầu tư gián tiếp của nước ngoài: khoảng 30 tỷ đô la Mỹ
Vậy chúng tôi thử hỏi các nhà kinh tế học rằng, với số tiền vay mượn và tiền vốn của nước ngoài khổng lồ như vậy, thì kết quả mà nhân dân và xã hội Việt Nam nhận được cho tới nay là thành tích đáng mừng hay chỉ là kết quả quá khiêm tốn. Phải chăng hiệu quả đầu tư của toàn xã hội là quá thấp? Chỉ số ICOR của VN so với các nước trong khu vực ra sao? Thua kém thế nào? Phải chăng một phần không nhỏ tiền đầu tư đã chảy vào túi bọn tham nhũng, vào lãng phí do sự kém cỏi vô trách nhiệm của giới lãnh đạo? Do vậy, có thể nhận định, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của chính phủ trong thời gian vừa qua, thực chất là đã làm tiêu hao và lãng phí một số lượng của cải vật chất và tiền bạc khổng lồ của nhân dân và của đất nước! Những kết quả được thể hiện ở việc nâng cao đời sống nhân dân, hay sự phát triển về cơ sở hạ tầng, hay sự biến đổi bộ mặt các đô thị và một số khu vực nông thôn, xóa đói giảm nghèo …, chỉ là hệ quả đương nhiên phải có khi một số lượng tiền đầu tư khổng lồ như nói ở trên được đưa vào xã hội và nền kinh tế!
Với số tiền khổng lồ đã được đầu tư như vậy trong những năm qua, nhưng rõ ràng tình hình kinh tế đất nước hiện nay vẫn chỉ dừng lại ở mức phát triển rất khiêm tốn, còn xa mới đạt được như các nước khác trong khu vực.Vào những năm 80 của thế kỷ trước tuy nền kinh tế đất nước còn rất nghèo nàn lạc hậu nhưng nợ công của nước ta lúc bấy giờ cón rất thấp, có thể nói là chưa đáng kể. Nhưng ngày nay con số này đang tăng lên đến chóng mặt, nếu tính đúng tính đủ thì đã vượt GDP! Với thực tế đáng buồn này có thể buộc chúng ta phải thừa nhận rằng trong hơn 2 thập kỷ vừa qua, chúng ta đã cùng lúc tham ô tiền của của quá khứ và ăn cắp tiền của tương lai! Hỡi ôi! Chúng tôi rất mong muốn nhân định này là sai vì nó quá phũ phàng! Nhưng nếu đúng, chúng tôi và tất cả các đảng viên chân chính trên toàn cõi Việt Nam phải đủ dũng cảm để đối mặt với sự thực đau đớn này để biết đường mà hành động! Xin các nhà khoa học, các nhà kinh tế cần phải có đánh giá lại một cách tổng quan, đầy đủ và khách quan để xác định một cách trung thực nhất rằng từ ngày đất nước đổi mới đến nay chúng ta đã bỏ ra bao nhiêu tiền và đã thu lại được gì?. Có tương xứng hay không? Chúng ta phải kiểm toán lại toàn bộ nền kinh tế. Người dân Việt Nam không thể chấp nhận cho những người lãnh đạo kém đức, kém tài tiếp tục lợi dụng ánh hào quang của quá khứ và bắt con cháu chúng ta phải è lưng trả nợ cho các hành vi tham nhũng, lãng phí và dốt nát.
Thưa các quý ông quý bà, chúng tôi muốn gửi tới quý ông quý bà những suy nghĩ chân thành và thẳng thắn nhất mà theo chúng tôi là nguyên nhân đã dẫn đến hiện tượng đau lòng và vô cùng nguy hiểm này:
Người ta nói thực tiễn là thước đo chân lý. Với những thực tế tụt hậu, xuống cấp nói trên, thì đảng cộng sản Việt Nam, và cụ thể là các thế hệ lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam trong hai thập niên vừa qua phải chịu trách nhiệm hoàn toàn. Không thể đổ lỗi cho khách quan. Tại sao ở các quốc gia khác, có những điều kiện về mặt địa lý, thiên nhiên kém ưu đãi hơn đất nước Việt Nam nhưng họ ngày càng vượt xa chúng ta.Vậy phải chăng những thành tích mà Đảng đã lãnh đạo đất nước trong hai thập kỷ qua đã đạt được là những “thành tích ngược”! Chúng tôi thật sự đau lòng thấy rằng đây là trách nhiệm của toàn Đảng, trong đó có chúng tôi. Sự kiêu ngạo, dốt nát, hiếu thắng, tư duy giáo điều và cả sự hèn nhát nữa là nguyên nhân cội rễ. Chúng ta luôn tự vỗ ngực là theo lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học Mác Lênin, nhưng trong thực tế, chính chúng ta là những kẻ duy ý chí nhất, chủ quan nhất, thiển cận nhất. Khi thực tiễn đã chối bỏ sự thành công của hệ tư tưởng chủ nghĩa xã hội tại Đông Âu và Liên Xô (cái nôi và thành trì của chủ nghĩa xã hội trước đây) thì rõ ràng những người cộng sản chân chính lẽ ra phải rút ra từ thực tế khách quan này những sai lầm, những bất cập trong học thuyết Mác Lênin và phải tự thay đổi mình nếu không nói là tự lột xác để đạt được mục tiêu tối thượng của chủ nghĩa xã hội là vì hạnh phúc của dân, vì sự phát triển của đất nước. Chúng ta vẫn ra rả hô khẩu hiệu “của dân, do dân, và vì dân”, nhưng thực tế đã chứng minh rằng lợi ích của Đảng ngày càng tách rời lợi ích của nhân dân, của dân tộc và của đất nước. Đảng càng chậm đổi mới về lý luận bao nhiêu thì ngày càng bộc lộ sự áp đặt chuyên quyền về mặt tư tưởng lên xã hội bấy nhiêu. Như vậy tất yếu Đảng phải xây dựng và duy trì một bộ máy nhà nước kìm kẹp sự phát triển của đất nước, và hạn chế sự phát huy dân chủ, sáng tạo của người dân. Chúng ta đã càng ngày càng vi phạm một cách trắng trợn, thô thiển quyền và lợi ích của người dân. Đứng trước tình hình ngặt nghèo của nền kinh tế trên bờ sụp đổ, đại hội 6 của đảng đã phải (lúc đó đất nước vẫn còn chịu ảnh hưởng của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu) thay đổi một số quan điểm rất cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, đó là chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang việc chấp nhận áp dụng một khái niệm cơ bản của nền kinh tế thị trường. Từ việc cổ súy quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, đả phá quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, sang việc chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần. Các kỳ đại hội tiếp theo, khi mà phe XHCN tan vỡ, Đảng đã phải tiếp tục tháo gỡ rất nhiều khái niệm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, như việc tuy chưa loại bỏ hoàn toàn khái niệm bóc lột của chủ nghĩa tư bản, nhưng Đảng đã bắt đầu chấp nhận và làm theo cách quản lý của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cả ở tầm vĩ mô cũng như vi mô, và hơn thế nữa,chúng ta còn học hỏi cách tổ chức xã hội theo hướng nhân văn của nhiều nước tư bản phát triển. Cụ thể, cho đến những năm 2000, thì đảng cộng sản Việt Nam đã cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân (theo khai niệm cũ tức là cho phép “bóc lột”). Mặc dù đảng cộng sản vẫn cố gắng bấu víu vào một số khái niệm cuối cùng của học thuyết Mác Lênin để muốn chứng minh rằng con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội là đúng đắn bằng việc cổ xúy kinh tế nhà nước, mà cụ thể, theo nhiều người hiểu một cách thô thiển là ưu đãi các công ty, tập đoàn có vốn nhà nước, dành cho thành phần kinh tế này sự ủng hộ về mọi mặt: hành lang pháp lý, tiền vốn, sự độc quyền, thị trường…! Nhìn lại quá trình trải qua các đại hội Đảng, chúng ta đã rất vất vả tự trói vả tự cởi trói cho mình. Biết bao những cuộc hội thảo, tranh luận, và những cái giá phải trả trên thực tế, Đảng cộng sản VN về mặt tư tưởng và lý luận vẫn chuyển biến môt cách ì ạch, miễn cưỡng, hệ quả là trong suốt hai thập kỷ qua, không phải là Đảng tạo ra bước đi sáng tạo, đột phá để dẫn dắt đất nước đi lên, mà là thực tế đã kéo lê Đảng phải chạy theo! Cụ thể là chỉ khi trên thực tế đã phát sinh ra những tình huống, những đòi hỏi không thể làm khác được, buộc Đảng phải tự cởi trói tự loại bỏ đi những khái niệm, những nguyên tắc đã quá lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế và của các vấn đề chính trị, xã hội theo đúng quy luật của sự phát triển. Từ khi đảng cộng sản TQ đưa ra khẩu hiệu là “xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu TQ”, mà các nhà lý luận không ai có thể định nghĩa được kiểu TQ là kiểu gì, thì đảng ta cũng đưa ra một khái niệm “xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng chủ nghĩa xã hội”, một khái niệm rất mơ hồ, mà các nhà chính trị, các nhà kinh tế học, các chuyên gia, mỗi người giải thích theo một cách. Dường như khái niệm xã hội chủ nghĩa chỉ là động tác cố gắng vớt vát lại cái hơi hướng gọi là chủ nghĩa xã hội của chế độ. Chính vì cái lờ mờ và tùy tiện này, nên đất nước đã phải trả giá rất đắt. Nhiều vị lãnh đạo trong Đảng đã diễn giải “định hướng xã hội chủ nghĩa” tức là ưu ái các doanh nghiệp nhà nước, coi họ là “quả đấm thép”, là “xương sống của nền kinh tế”, và đương nhiên khi đã là quả đấm thép, là xương sống thì sẽ có những ưu ái khác biệt, khác hẳn các doanh nghiệp không phải của nhà nước, và đã tạo ra một môi trường theo kiểu “nuôi dưỡng kiêu binh”, một đội ngũ doanh nhân và doanh nghiệp được chiều chuộng và bị lạm dụng cho các mục tiêu cá nhân của những vị lãnh đạo của Đảng và nhà nước , chúng dần dần biến thành những nhóm lợi ích bao gồm lãnh đạo đảng và nhà nước – doanh nghiệp nhà nước - các doanh nghiệp tư nhân trong phe cánh, để chia chác tài nguyên của đất nước, chia chác những ưu đãi, những thị phần quan trọng, chia chác những nguồn tài chính của đất nước…v.v. Những xu hướng vô cùng nguy hiểm và xấu xa này là được che đậy bởi khẩu hiệu định hướng xã hội chủ nghĩa !!!
Lẽ ra, trong hoàn cảnh hệ thống chủ nghĩa xã hội trên thế giới sụp đổ, thì những người cộng sản VN nếu thực sự trung thành với lý tưởng của mình là vì dân vì nước thì phải tìm ra con đường mới để đưa đất nước tiến lên, đưa dân tộc trở nên giàu có. Nhưng rất tiếc trên thực tế thì “cái gọi là những người cộng sản” hoặc là do ấu trĩ, hoặc là do hư hỏng, đã cố tìm cách níu kéo những tư duy đã lỗi thời của quá khứ, và họ đã phản bội lại mục tiêu tối thượng của mình. Họ chỉ tìm cách ru ngủ mình, ru ngủ nhân dân bằng những khái niệm mơ hồ với những khẩu hiệu rỗng tuếch. Với thực tế này, Đảng cộng sản đã trở thành trở ngại của sự phát triển, của tiến bộ , là nơi nuôi dưỡng những ung nhọt. Chúng tôi thật sự choáng váng khi nhận biết được là các vị lãnh đạo của đảng, và đặc biệt là ông tổng bí thư, đã không nhận ra thực tế phũ phàng này mà lại tiếp tục ru ngủ mình và ru ngủ người khác bằng các bài thuyết giáo ngớ ngẩn dến mức kỳ cục. Xin hãy đọc lại bài phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng trong chuyến đi thăm Cuba vừa qua. Chúng ta thấy sự lặp lại một cách lố bịch những tư tưởng giáo điều mà người ta chỉ sử dụng vào trước những năm 70 của thế kỷ trước. Chúng tôi không hiểu nổi tại sao người lãnh đạo cao nhất của đảng lại bất chấp mọi thực tế, bất chấp sự vận động của thực tế khách quan đến như vậy! Đội ngũ hàng nghìn những cán bộ tuyên huấn do ông Nguyễn Phú Trọng đứng đầu trong suốt mấy thập niên vừa qua đã làm gì, đã tạo được cái gì mới, để cho chủ nghĩa Mác Lênin có thể sống được với thực tế phát triển của nhân loại, ngoài việc lặp đi lặp lại như những con vẹt nghễnh ngãng với thời cuộc. Chẳng thế mà trong đợt góp ý sửa đổi hiến pháp năm 1992 vừa rồi, Đảng mà người đứng đầu là ông tổng bí thư đã sử dụng bộ máy tuyên truyền viên hùng hậu, cùng các phương tiện thông tin đại chúng trong toàn quốc để đưa ra đủ loại biện minh cho việc phải đưa vào hiến pháp nội dung “lực lượng vũ trang phải trung thành với đảng”. Thật kỳ lạ! Sự ép buộc này chỉ có thể lý giải bằng một cách duy nhất, là các vị lãnh đạo cao cấp của đảng đang sợ những đảng viên của chính mình (trong hàng ngũ sĩ quan và hạ sĩ quan thì 100% là đảng viên) hiện đang làm việc trong các lực lượng vũ trang chống lại họ! Thật là hài hước và châm biếm! Và nếu họ sợ như vậy, tại sao lại phải phơi bầy lên một đạo luật cơ bản của đất nước các vấn đề nội bộ đáng đau lòng của Đảng. Phải chăng không còn cách nào khác để giải quyết các vấn đề nội bộ trong đảng, thì phải phơi nó lên hiến pháp trước toàn dân và trước cộng đồng quốc tế?! Và liệu quy định như vậy trong hiến pháp thì lực lượng vũ trang hay các đảng viên trong lực lượng vũ trang có từ bỏ việc chống lại lãnh đạo đảng không?! Sự lú lẫn của ông tổng bí thư lên đến cực điểm khi dám phát biểu công khai là Hiến pháp được xếp vị trí thứ hai sau cương lĩnh đảng!!! Nhận định này cực kỳ phi chính trị, cực kỳ thiếu hiểu biết, hóa ra khẩu hiệu “của dân, do dân, vì dân và vì tổ quốc” là láo toét!
Thưa các quý vị, rõ ràng trên thực tế đã khẳng định tình trạng quy hoạch nhân sự của đảng đã bị hư hỏng nghiêm trọng từ rất lâu, bắt đầu từ việc quy hoạch các vị trí đứng đầu của đảng: Tổng bí thư, BCT, BCH TƯ. Chúng tôi thấy trong hội nghị TƯ 8 vừa rồi, các quý vị đã thành lập nhiều tiểu ban, trong đó có tiểu ban nhân sự để chuẩn bị cho đại hội 12. Cảm nhận của những đảng viên chúng tôi là lại bắt đầu một đợt chạy chức, chạy quyền rất náo nhiệt từ nay đến đại hội, mà BTC TƯ là sân khấu chính cho cuộc đua, giống như các kỳ đại hội trước đây.
Kính thưa các quý vị, đảng đã yếu kém như vậy thì làm sao chính phủ mà 100% là đảng viên và là ủy viên TƯ lại không tham nhũng lãng phí được. Chúng ta lấy thí dụ của ông Dương Chí Dũng, ông Phạm Thanh Bình: họ phải tìm cách tạo dựng ra nhu cầu giả cho việc mua sắm, đầu tư để xin tiền nhà nước mua tàu cũ, mua ụ nổi để kê giá, để chia chác. Chắc các quý vị cũng thừa hiểu những loại như Dương Chí Dũng đang nhung nhúc trong bộ máy đảng và nhà nước ta hiện nay. Chúng ta hãy nhìn lại cái gọi là cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng trong suốt nhiều thập kỷ qua, và đặc biệt đã dâng lên thành cao trào được thể hiện trong các hội nghị TƯ 4, 5, 6 vừa qua. Thật khôi hài, ông TBT đã khởi động một chiến dịch có thể gọi là công khai và mạnh mẽ nhất chống tham nhũng. Nghị quyết TƯ 4, 5 được nhân dân và các đảng viên chúng tôi rất hy vọng vào sự kiên quyết của những bàn tay trong sạch của Đảng nhằm loại đi những ung bướu cấp tính trong bộ máy của Đảng va nhà nước, nhưng hội nghị TƯ 6, 7 và 8 đã cho một kết quả hoàn toàn ngược lại. Chúng tôi bảo nhau, nếu chi bộ chúng tôi mà có kiểu phê và tự phê giống như BCT và BCH TƯ đã làm trong hội nghị TƯ 6 thì chắc chắn đã bị đảng ủy cấp trên xếp vào chi bộ yếu kém và phải thay dổi lại ban lãnh đạo của chi bộ. Việc rõ ràng đến như vậy mà dường như TBT và nhiều vị ủy viên bộ chính trị trong BCH TƯ không cảm thấy xấu hổ, và vẫn giao giảng huấn thị toàn Đảng phải tổ chức phê và tự phê theo gương BCT! Chúng tôi xin phép được nói thẳng, khẩu hiệu phê và tự phê chỉ là khẩu hiệu đầu lưỡi, chỉ là sự lên gân hình thức trong một thời gian rất ngắn nhằm tự lừa dối mình và lừa dối nhân dân. Còn việc tự khen mình và khen lẫn nhau, kéo bè kéo cánh mới là bản chất, mới là sinh hoạt thường xuyên của Đảng, của ban lãnh đạo đảng va chính phủ hiện nay!!!
Thưa các quý vị, Đảng kém như vậy, chính phủ tham nhũng như vậy, thì làm sao có thể đảm bảo được độc lập cho đất nước, làm sao có thể giữ vững được an ninh quốc phòng. Hãy nhìn vào hiện tượng Đảng ngăn cản người dân đứng ra tổ chức tưởng niệm những liệt sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía bắc là một ví dụ điển hình. Tại sao lại hèn nhát đến như vậy? Người dân Việt Nam không bao giờ muốn gây chiến, không ủng hộ chủ nghĩa dân tộc quá khích. Nhưng quyền được tưởng nhớ và tôn vinh những người con của đất nước đã hy sinh để bảo vệ tổ quốc là quyền tối thiểu của mỗi người dân cũng bị đe dọa tước mất, phải chăng đó là thông điệp của Đảng muốn gửi tới nhân dân rằng nếu Trung Quốc có xâm lược Việt Nam một lần nữa thì người dân hãy cúi đầu làm nô lệ, không được chiến đấu để bảo vệ tổ quốc nữa? Một hiện tượng nữa cũng phải nhắc tới để thấy rõ sự hèn nhát, kém cỏi của bộ máy lãnh đạo: trong dịp quốc tang đại tướng Võ Nguyên Giáp, việc ấn định ngày tổ chức lễ quốc tang là do lãnh đạo Đảng chủ động xác định, ấy vậy mà khi thủ tương Trung Quốc Lý Khắc Cường chưa kịp hạ cánh xuống sân bay Nội Bài thì chính quyền thành phố Hà Nội đã xua người đi kêu gọi nhân dân hạ cờ rủ xuống khi mà buổi lễ an táng vẫn chưa kết thúc. Tại sao lại phải hèn nhát đến như vậy? Thủ tướng Trung Quốc đến Việt Nam thì cũng phải biết tôn trọng người Việt Nam chứ. Nếu mà có tư duy kém cỏi, nhược tiểu như vậy thì mua tàu ngầm kilo, mua SU30, SS300, khu trục hạm Đinh Thiên Hoàng để làm gì? Muốn chống giặc ngoại xâm thì phải có lòng kiêu hãnh và khí phách chứ! Giặc Mỹ, giặc Pháp thua Việt Nam chỉ vì điều này. Nguyên lý sơ đẳng như vậy mà tại sao lãnh đạo đảng ngày nay không ý thức được? Các vị lớn tiếng nói đến việc xây dựng lòng tin chiến lược giữa các quốc gia, sao các vị không nghĩ tới việc xây dựng lòng tin với người dân của mình?
Thưa các quý vị, Đảng không được lấy lý do là vì sự ổn định chính trị của đất nước làm cái cớ để làm những việc xằng bậy, yếu kém và vô liêm sĩ như vậy! Ổn định chính trị là rất cần thiết đối với mọi quốc gia, nhưng giữ ổn định là để đưa đất nước tiến lên, chứ không phải để kìm hãm kéo lui đất nước về mọi mặt như hiện nay!
Chúng tôi rất chia sẽ với những câu kết của bút danh Bùi Minh Quốc khi viết về lễ quốc tang đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài Một vài suy nghĩ về "hiện tượng" những ngày quốc tang đại tướng Võ Nguyên Giáp rằng “Sẽ đến lúc sự giả dối, sự ngu dốt, sự hèn nhát và các toan tính bẩn thỉu sẽ bị quét sạch ra khỏi đất nước này.”
Thưa các ông các bà lãnh đạo đảng và nhà nước, các ông các bà có hiểu rằng nếu các ông các bà tiếp tục có thái độ thờ ơ với dân với nước như những ngày vừa qua thì chính người dân Việt Nam, trong đó có cả các đảng viên cộng sản như chúng tôi sẽ vùng lên, sẽ không để cho các ông các bà làm trò hề tổ chức đại hội đảng thêm một lần nữa, sẽ không có đại hội lần thứ 12 nữa đâu! Người dân Việt Nam sẽ không cho phép các ông các bà tiếp tục tham ô của quá khứ và ăn cắp của tương lai. Chúng tôi đã đều lớn tuổi, nhưng chúng tôi sẵn sàng hiến dâng phần đời còn lại của mình để giúp con cháu cùng hàng triệu người dân Viêt Nam anh hùng đứng lên quét sạch những loại rác rưởi của dân tộc, của đất nước! Trong tai chúng tôi bây giờ văng vẳng lời của bài hát diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi “Diệt phát xít, diệt bầy chó đê hèn của chúng, tiến lên nền dân chủ cộng hòa. Đồng bào tuốt gươm vùng lên…” Các ông các bà có tin là một cuộc cách mạng giống như cuộc cách mạng tháng tám năm 1945 sẽ nổ ra rất sớm hay không?
Chúng tôi yêu cầu lãnh đạo Đảng phải tự thay đổi lập tức ngay từ bây giờ, thậm chí phải tự lột xác, thì mới còn hy vọng vớt vát lại phần nào niềm tin đối với nhân dân, mới có cơ hội để chuộc lỗi với các sai lầm đã mắc trong thời gian vừa qua, mới không phụ với sự hy sinh của hàng triệu con người đã ngã xuống cho đất nước, cho dân tộc vì lý tưởng của đảng là độc lập, thống nhất tổ quốc, là xây dựng một đất nước hùng cường, một dân tộc hiển vinh, một đời sống dân chủ, tự do hạnh phúc….

Hà Nội, 28 tháng 10 năm 2013
Lê Trấn Gia
0
Trong mấy ngày qua, trời Hà Nội mưa và gió lạnh, thông tin về những người H Mông bị bị công an quận Đống Đa đuổi ra khỏi nhà thờ trong đêm giá lạnh đã khiến cộng đồng không thể bàng hoàng, bàng hoàng vì tại sao con em nhân dân sau khi được tuyển vào ngành công an, ngành công an đã đào tạo họ như thế nào, môi trường sống và làm việc ra sao mà chúng nó lại trở nên tàn nhẫn như vậy,…

Sáng 9/10/2013 chúng tôi có mặt tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng để tìm hiểu sự việc, tìm hiểu xem người H Mông đã làm gì mà bị  công an tìm cách xua đuổi ra khỏi Hà Nội như vậy,…..thì ra họ về thủ đô là để đòi người, những người bị bắt đi khi họ tham gia đấu tranh với chính quyền những mục tiêu sau của người H Mông.

  1. Đấu tranh cho quyền làm chủ của người dân.

 Theo trình bày của người dân H Mông tại vườn hoa Mai Xuân Thưởng thì tất cả dân tộc    H Mông sống trong 4 tỉnh phía Bắc là Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang đều bị đàn áp tàn nhẫn, cấm không cho sống đời sống văn minh mà bắt trở về với các thủ tục lạc hậu của dân tộc H Mông.

 Người H Mông không nghe theo chính quyền địa phương bắt họ trở lại phong tục tập quán như xưa, đó là người chết phải treo trên tường 7 ngày 7 đêm và phải bón cơm, phải mổ trâu mổ bò ngồi ăn cùng với xác chết 7 ngày 7 đêm rồi vác xác chết đi chôn không quan tài, 13 ngày sau lại phải mổ trâu bò cúng ma, người H Mông không nghe theo chính quyền xã, huyện sống lại phong tục lạc hậu từ trước năm 1989.

Từ năm 1989 người H Mông thuộc 4 tỉnh phía bắc bao gồm Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang đã xây dựng cho mình một cuộc sống mới, từ bỏ phong tục cổ hủ, lạc hậu, họ đã thống nhất mỗi nơi làm một cái nhà nhỏ để đồ tang lễ để mỗi khi ai chết mang ra dùng.

Người H Mông không chấp nhận chính quyền và công an mang dùi cui điện và còng số 8 đến đàn áp, phá nhà tang lễ và đánh đập người dân, nhiều người bị bắt mang đi.

  1. Đấu tranh cho sự thật, yêu cầu chính quyền phải trả lại tiếng thơm cho anh Dương Văn Minh.

Người H Mông rất biết ơn anh Dương Văn Minh trú quán thôn Ngòi Sen, xã Yên Lâm, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, anh Minh là người đã giúp người H Mông cải đổi đời sống. Người H Mông đã sống và thay đổi phong tục tập quán mới như trên từ năm 1989 là nhờ anh Dương Văn Minh, họ đã sống trong môi trường trong lành và đời sống khỏe mạnh, không còn ám ảnh bởi mà tà cúng tế, mổ trâu bò suốt 7 ngày 7 đêm nữa,…thế nhưng anh Dương Văn Minh lại bị công an bắt giam 5 năm tù với tội tổ chức tôn giáo trái pháp luật.

Người H Mông chính là nhân chứng cho sự thật, cho những việc làm của anh Dương Văn Minh, họ không chấp nhận việc chính quyền bóp méo sự thật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và quyền lợi của nhân dân và đòi hỏi chính quyền phải trả lại tiếng thơm cho anh Dương Văn Minh, cấp bằng khen thưởng cho anh Dương Văn Minh, người đã mang lai cho dân tộc H Mông đời sống văn minh, thoát khỏi đói nghèo 25 năm nay.

Người H Mông yêu cầu chính quyền phải điều tra sự thật và truy tố những cán bộ làm sai pháp luật, bồi thường thiệt hại, trả lại những đồ tang lễ, không được phá nhà  bảo quản đồ tang lễ để họ trở về với cuộc sống bình an và văn minh.

Ngoài ra người H Mông cũng thách chính quyền là nếu chính quyền bắt họ trở về với những phong tục lạc hậu thì đề nghị chính quyền phải cung cấp trâu bò, tiền, bạc, lợn gà, rượi, gạo….để họ cúng ma làm lễ, chính quyền về sống và cùng thực hiện cúng mà với bà con nhưng phải làm nhà treo xác riêng và chính quyền phải tự vác xác đi chôn. Nếu chính quyền làm được như trên thì họ sẽ quay về với tập tục lạc hậu (xem tại ảnh các ảnh chụp đơn tố cáo của người H Mông kèm theo cuối bài).

Trên đây là 2 lí do căn bản đã dẫn đến sự việc người H Mông bỏ nhà cửa, cuộc sống của mình về Hà Nội để đấu tranh đòi thả người, họ nói “khi nào chính phủ và nhà nước không bắt dân tộc này nữa, không làm cho dân tộc này hoàng mang lo sợ nữa thì chúng tôi sẽ về, tự nhiên chúng tôi sẽ về, chúng tôi có nhà cửa, có cuộc sống của chúng tôi chứ, chẳng qua không công bằng nên chúng tôi phải đi đòi hỏi" (nghe phát biểu của Ma Văn Pá và Lý Văn Anh người dân tộc H Mông)


0
Khối 8406 vừa vượt qua 6 năm thử thách để trưởng thành trong đấu tranh giải thể chế độ cộng Sản. Nhiều thành viên của Khối bị bắt, bị khép tội, bị tù hay bị cộng sản cô lập. Thế mà trong cuộc Điều Trần trước Tiểu Ban Nhân Quyền thuộc Ủy Ban Ngọai Giao Quốc Phòng và Thương Mãi Quốc Hội Liên Bang Úc, ngày 24-2-2012, khi được Dân Biểu Philip Ruddock hỏi “Khối 8406 có phải là một tổ chức chính trị hay không?” người viết lại trả lời: “Khối 8406 không phải một tổ chức chính trị. Khối chỉ là một tập hợp của những người đang đấu tranh cho tự do dân chủ”.

Câu trả lời tạo không ít thắc mắc cho những người đang quan tâm đến vận mệnh dân tộc. Chỉ riêng trên báo Việt Luận – Úc Châu đã có hai bạn đọc ông Trần Văn Ý ở Cabramatta và ông Nguyễn Xuân Quang ở Melbourne góp ý về câu trả lời.

Điều Trần làm nhân chứng (witness). Khi bắt đầu cuộc Điều Trần mọi ngườiđều được Dân Biểu chủ tọa Laurie Ferguson nhắc nhở Tiểu Ban không yêu cầu nhân chứng phải tuyên thệ, nhưng Điều Trần là một thủ tục pháp lý của Quốc Hội. Nếu nhân chứng đưa ra bằng chứng sai hoặc tài liệu gây hiểu lầm là một vấn đề nghiêm trọng có thể bị coi là khinh thường Quốc hội.

Đến buổi chiều ngày 24-2-2012, trong phần Điều Trần của Dân Biểu Tiểu Bang Victoria Luke Donnellan, Dân Biểu Liên Bang Philip Ruddock lại nêu ra câu hỏi về Khối 8406. Ông Ruddock hỏi ông Donnellan: “Cho tôi biết những gì bạn hiểu về Khối 8406?” Ông Donnellan trả lời như sau: ”Đây là một nhóm những người. Tôi đã được Cha Lý cung cấp tài liệu theo đó họ kêu gọi các quyền cơ bản của con người và kêu gọi đa đảng. Đa số họ là những người đang sinh sống tại Việt Nam, rất ít người ở nước ngoài, những người đã sẵn sàng ký vào các văn bản của Khối. Những người sống tại Việt Nam biết rõ nguy cơ khi ký kết các tài liệu và nhiều người trong số họ trong một thời gian qua đã bị bắt giữ. Theo tôi hiểu tại Việt Nam có nhiều tổ chức khác nhau, Việt Tân là một đảng chính trị, còn Khối 8406 không phải là một đảng chính trị vì Khối có người tham gia từ nhiều đảng chính trị khác nhau, họ tập hợp để kêu gọi quyền cơ bản của con người và một thể chế đa đảng”.

Mục đích chính của Khối 8406 là cổ vũ các chính đảng dân chủ sớm xuất hiện và hoạt động công khai tại Việt Nam. Theo Cương Lĩnh mọi thành viên của Khối 8406 được khuyến khích thành lập hay gia nhập các tổ chức chính trị, các đảng chính trị có cùng lý tưởng, mục tiêu, phương cách đấu tranh với Khối 8406.

Mục tiêu chính yếu của Khối 8406 là liên kết mọi tổ chức chính trị và dân sự để đẩy mạnh việc giải thể chế độ cộng sản thành lập một Quốc Hội Lập Hiến sọan ra một Hiến Pháp Tự Do, xây dựng một thể chế dân chủ cho Việt Nam. Điều 2.6 của Cương Lĩnh Khối 8406 ghi rõ khi hòan thành được mục tiêu này Khối 8406 sẽ tự động giải thể.

Việc Khối 8406 sẽ giải thể ngay khi Việt Nam có một Hiến Pháp Tự Do đồng nghĩa với việc Khối 8406 không đeo đuổi mục tiêu tham gia vào chính phủ tự do. Trong khi ấy các tổ chức chính trị hay các đảng chính trị lại có mục tiêu lâu dài là đề ra chính sách để được đa sốdân chúng chấp nhận và giao trách nhiệm quản lý, điều hành và lãnh đạo đất nước.

Nói tóm lại Khối 8406 chỉ là một tổ chức quần chúng đấu tranh với mục đích tập hợp và liên kết cá nhân tổ chức nhằm giải thể chế độ cộng sản sớm mang lại tự do dân chủ cho Việt Nam.

Mọi thành viên Khối 8406 đều độc lập

Khối 8406 gắn liền với hình ảnh và tinh thần của linh mục Nguyễn Văn Lý một chiến sĩ dân chủ kiên cường và là một sáng lập viên của Khối. Khối cũng gắn liền với hình ảnh linh mục Phan văn Lợi một người luôn kiên trì dứt khóat lập trường đấu tranh giải thể cộng sản. Bởi thế nhiều người vẫn nghĩ rằng Khối được thành lập từ những người công giáo. Ngay trong cuộc Điều trần Dân Biểu Philip Rudduck đã cho biết suy nghĩ của ông Khối 8406 là tổ chức thuộc công giáo.

Khối 8406 đã thành hình và họat động dựa trên 3 Văn kiện nền tảng của Khối là (1) Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006 ngày 8-4-2006 (2) 10 điều kiện bầu cử Quốc hội ngày 20-6-2006 và (3) Tiến trình Dân chủ hóa Việt Nam ngày 22-8-2006. Muốn gia nhập bạn chỉ cần tuân thủ Cương lĩnh của Khối và mang quyết tâm giải thể chế độ cộng sản. Bốn tài liệu nói trên rất dễ tìm thấy trên mạng tòan cầu Internet.

Khối 8406 chỉ một tổ chức quần chúng tiên phong đứng lên đấu tranh cho đa nguyên đa đảng, vì vậy Khối 8406 quy tụ được hằng ngàn Phật tử, tín hữu Công Giáo, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, tín đồ Cao Đài, tín hữu Cơ Đốc Phục Lâm, tín hữu Tin Lành, … Khối cũng quy tụ nhiều thành viên từ các đảng Chính Trị như đảng Thăng Tiến, đảng Vì Dân, đảng Dân Xã, đảng Dân Chủ Phục Họat,đảng Dân Chủ Nhân Dân, v.v… Nhiều thành viên của Khối trước đây từng phục vụ trong quân đội hay là đảng viên đảng Cộng sản nay đã trở về với hàng ngũ dân tộc. Các thành viên thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Các thành viên có thể sống trong hay ngòai nước.

Mỗi thành viên Khối, tùy hòan cảnh và khả năng, độc lập trong phương cách đấu tranh hay phương cách để yểm trợ đấu tranh. Nhờ sự đa dạng này và không có một cơ cấu chặt chẽ như các tổ chức chính trị, Khối 8406 công khai tồn tại qua các cuộc khủng bố và tiếp tục phát triển nhằm thực hiện mục tiêu tối hậu là giải thể chế độ cộng sản mang tự do dân chủ đến cho Việt Nam.

Đảng Cộng Sản không phải là một đảng chính trị

Chúng ta vẫn thường nghe các đảng viên đảng Cộng sản xác nhận họ chỉ là một đảng cầm quyền, còn nói rõ hơn là đảng cai trị. Để tồn tại người cai trị cũng phải biết tìm những phương cách đểduy trì sự tồn tại. Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá khứ đã chọn theo Nga Sô để tồn tại. Ngày nay họ chọn con đường theo Tầu bán nước. Họ cũng chọn tận khai mọi tài nguyên và nhân lực quốc gia chỉ để duy trì sự tồn tại của chế độ. Họ sẵn sàng ra tay đàn áp mọi tiếng nói mọi khuynh hướng bất đồng.

Theo ngọai bang Nga Tầu, căn bản của đảng Cộng sản là dùng bạo lực để đấu tranh giai cấp, để tranh giành và bảo vệ quyền lực. Vì thế khi trở thành một đảng cai trị, các đảng viên luôn tìm mọi cách để kết bè, chia cánh, sẵn sàng sử dụng mọi thủ đọan dơ bẩn nhất chỉ đểthâu tóm quyền lực và quyền lợi. Đến độ đảng Cộng sản phải liên tục “chỉnh đốn nội bộ”. Gần đây Nguyễn Phú Trọng đã phải triệu tập hết Hội Nghị này đến Hội Nghị khác chỉ để tuyên bố “chỉnh đốn nội bộ” không thì chết. Còn Nguyễn Minh Triết đã phải tuyên bố “bỏ điều 4 Hiến Pháp” là đảng Cộng sản tự sát.

Vì chỉ là một đảng cai trị, đảng Cộng sản cầm được quyền nhưng không khả năng nên càng ngày càng đưa đất nước đến chỗ thóai trào. Để cai trị đảng Cộng sản bằng mọi cách nắm giữ hai lực lượng vũ trang là công an và quân đội. Hai lực lượng này lẽ ra là để bảo vệ quốc gia, bảo vệ dân tộc nhưng lại được họ biến thành các lực lượng để bảo vệ chế độ cộng sản.

Vì chỉ là đảng cai trị, giới cầm quyền cộng sản sợ nhất là 10 chữ “diễn biến hòa bình, tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong đảng và quân đội. Nó nói lên một quá trình tan rã của một đảng cai trị khi đảng này không còn khả năng thích ứng với thời đại.

Bà con ta thường bảo nhau “đừng sợ những gì cộng sản làm mà hãy làm những gì cộng sản sợ”. Đảng Cộng sản sợ nhất là các đảng viên, là các quân nhân, là các cảnh sát viên mang vũ khí quay về với dân tộc. Vì thế muốn giải thể cộng sản chúng ta cần phải đẩy mạnh việc vận động các lực lượng vũ trang quay về với dân tộc.

Chính trị tốt hay xấu

Trải gần 70 năm quốc nạn cộng sản, guồng máy cai trị cộng sản được thiết lập chỉ nhằm mục đích cai trị dân ta. Đảng, quốc hội, nhà nước, đòan thể, quânđội, công an… chỉ là những tổ chức để cai trị. Dưới thể chế cộng sản không có sinh họat “chính trị” mà chỉ có sinh họat cai trị nhằm phục vụ chế độ cộng sản. Thế nhưng ít người trong chúng ta nhận ra điều này, từ thân phận của một người bị cai trị chúng đâm ra hồ nghi và đâm ra ngán ngẩm hai từ “chính trị”. Chúng ta quên rằng chính trị chỉ là làm những việc chính đáng cho đất nước cho quê hương cho nhân lọai.

Trên Báo Việt Luận Úc Châu ngày 30-3-2012, bạn đọc Nguyễn Xuân Quang từ Melbourne đã góp ý người viết như sau: “Giới bình dân ví von chính trị là ‘cục xôi’ có mùi vị thơm ngon, rờ vào dính tay, dễ dàng bóp méo, vo tròn tùy ý, nhưng tham ăn nhiều thì nghẹn. Đến Úc định cư,thiên hạ còn bảo nhau chớ có tin mấy ông chính trị gia vì họ thiếu thành tín, xảo ngôn và trí trá. Đi đôi với chính trị là quyền lực nên có những người vì lý tưởng hay vì đam mê quyền lực, họ say sưa năng nổ tham gia chính trị là vậy.”

Gần 30 năm sống tại Úc quan tâm và sinh họat chính trị, người viết học hỏiđược một điều là động lực tham gia chính trị của các chính trị gia tại Úc chính là vì quyền lực. Lẽ đương nhiên nếu không có các động lực chính trị thì làm sao họ có thể sinh họat chính trị được.

Báo chí Úc hằng ngày bêu xấu các chính trị gia thiếu thành tín, xảo ngôn và trí trá. Thế nhưng ngừơi Úc vẫn tin tưởng vào một hệ thống chính trị do chính ông bà cha mẹ họ và chính họ đã xây dựng hằng trăm năm qua. Họ tham gia chính trị là để bảo vệ quyền lợi chính đáng của bản thân và gia đình. Họ tham gia đảng chính trị, họ đi bầu, họ biểu tình đòi tăng lương, họ biểu tình đòi bảo vệ môi trường, họ vận động các dân biểu nghị sĩ thực hiện những điều họ quan tâm, v.v… Qua đó họ thể hiện lòng yêu nước một cách tích cực vì họ đã làm chủ được của đất nước của họ.

Là một người tị nạn cộng sản người viết luôn tri ân các đảng chính trị,các chính trị gia Úc và người dân Úc. Không phải chỉ vì họ đã mở rộng tấm lòng để tiếp đón những người tị nạn, những người đã bị chính những đồng chủng của họtheo cộng sản kỳ thị khủng bố. Người viết còn tri ân vì chính nhờ những sinh họat chính trị của họ, người viết mới được sống trong một xã hội hài hòa, có được an sinh xã hội, được cơ hội bình đẳng thăng tiến và nhất là có cơ hội để nhận ra những điều tốt đẹp mà các đảng chính trị đã mang lại cho công dân Úc Đại Lợi.

Các thành viên của Khối 8406 không phải là người làm chính trị đúng nghĩa. Chúng tôi là những người đấu tranh. Chúng tôi đấu tranh cho lý tưởng mang lại tự do cho dân tộc Việt Nam.

Khối 8406 một tập hợp của những đấu tranh lại công khai tuyên bố sẽ giải thể sau khi hòan thành nhiệm vụ xây dựng một Hiến Pháp Tự Do cho Việt Nam. Yêu nước yêu tự do chính là động lực cho những người Việt Nam chọn con đường đấu tranh giành lại tự do cho dân tộc Việt Nam. Chúng tôi gắn bó với nhau chỉ vì yêu nước và yêu tự do.

Sự thực vẫn phải là sự thực. Một mai khi Việt Nam đã có một Hiến Pháp TựDo, Khối 8406 sẽ giải thể theo đúng Điều 2.6 Cương Lĩnh Khối đã ghi rõ.

Mặc dù Khối không phải là một tổ chức chính trị chúng tôi luôn luôn khuyến khích các thành viên thành lập hay gia nhập các tổ chức chính trị. Tại Úc châu chúng tôi còn có những thành viên tham gia vào chính đảng Úc và sinh họat chính trị Úc.
Có bạn đọc hỏi thế người viết đã gia nhập đảng chính trị nào chưa ? Để có thể làm việc được với nhiều tổ chức chính trị khác nhau người viết chưa tham gia vào bất cứ đảng chính trị nào. Người viết chỉ xin được làm cảm tình viên của tất cả các tổ chức chống cộng hay đảng chống cộng.

Việt Nam cần đa đảng Chính Trị

Mỗi quốc gia trong mỗi lúc có hòan cảnh khác nhau, mỗi quốc gia lại được hình thành từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, các tầng lớp này lại luôn thay đổi theo hòan cảnh của cá nhân và xã hội. Vì thế không lạ gì khi quyền lợi và ý kiến chính trị mỗi người dân đều khác nhau có khi lại trái ngược nhau.

Khi quần chúng đã nhận thức được lợi ích chính trị thì những người cùng một xu hướng chính trị, có cùng chung các quyền lợi thường tập hợp nhau thành những tổ chức chính trị. Mỗi tổ chức chính trị sẽ đề ra những chính sách theo quan niệm xu hướng chính trị của mình. Các tổ chức chính trị cạnh tranh nhau qua những chính sách do tổ chức của mình đề ra và khả năng thực hiện chính sách, nhờ đó xã hội càng ngày càng trở nên tiến bộ, đời sống dân chúng được cải thiện và đất nước mỗi ngày trở nên tốt đẹp hơn.

Nói một cách khác cuộc đấu tranh chính trị là một cuộc đấu tranh trường kỳ giữa các tổ chức chính trị với nhau. Tổ chức nào đề ra các quốc sách phù hợp với nguyện vọng của đa số người dân trong từng giai đọan sẽ được người dân trao cơ hội để thực hiện.
Trước khi một quốc sách được hoàn thành thì các tổ chức chính trị phảiđưa ra các quốc sách mới và phải vận động để tòan dân ủng hộ quốc sách mới này, hầu được tiếp tục lãnh đạo quốc gia. Hành động chính trị luôn luôn có tính cách trường kỳ, và lúc nào chính trị cũng đóng lấy vai trò lãnh đạo đưa đất nước thăng tiến.

Việt Nam trong hòan cảnh hiện nay lại cần nhiều tổ chức chính trị nhiều đảng chính trị để âm thầm tập hợp những người có cùng khuynh hướng chính trị nhằm đẩy mạnh công cuộc đấu tranh dân chủ hóa Việt Nam.

Người viết gia nhập Khối 8406 vì mục tiêu chính của Khối là đấu tranh giải thể chế độ cộng sản thành lập một Quốc Hội Lập Hiến sọan ra một Hiến Pháp Tự Do cho Việt Nam. Người viết tin rằng khi Việt Nam chưa có một Hiến Pháp Tự Do thì không một cá nhân, một đảng hay một tổ chức chính trị nào có thể đưa đất nước thóat khỏi vòng suy thóai đưa đất nước đi lên hòa nhập cùng nhân lọai. Một hiến Pháp mới cần phải tập trung được nhiều khuynh hướng khác nhau để đưa ra một mô hình thích hợp nhất với hòan cảnh Việt Nam. Vì thế nhu cầu cần nhiều tổ chức chính trị nhiều đảng chính trị trong hòan cảnh hiện nay là một nhu cầu vô cùng thiết yếu.

Đảng Cộng sản cũng rất sợ khi chúng ta có tổ chức. Khi có tổ chức một người chúng ta sẽ phát triển thành mười, mười phát triển thành trăm, trăm phát triển thành ngàn, và cứ thế, triệu người có tổ chức đang đứng lên để giành lại tự do,để xây dựng dân chủ, công bình, bác ái, đưa đất nước tiến lên hòa nhập vào thếgiới văn minh. Mỗi thành viên Khối 8406 trưởng thành trong đấu tranh chính trịsẽ là những hạt nhân cho sự ra đời và phát triển của các đảng các tổ chức chính trị.

Khối 8406 con đường sẽ vượt qua

Trong quá khứ chúng ta thường vạch lằn ranh quốc cộng, thiện ác, chính tà, đúng sai, bạn thù … để bảo vệ chính kiến, bảo vệ lập trường. Đây là con đường dễ chọn. Chúng ta không cần đối thọai với bất cứ những ai khác suy nghĩ, khác phương cách đấu tranh với chúng ta. Nhờ vậy ở Hải Ngọai chúng ta đã giữ vững được thành trì chống cộng và cũng nhờ vậy ở trong nước chúng ta mới bảo tồn được lực lượng.

Thời thế đã thay đổi để giành lại tự do chúng ta phải chuyển từ thế thủ sang thế công, những thành viên của Khối 8406 chính là những người tiên phong nhận lãnh trách nhiệm nối liền giữa những người trước đây theo cộng sản hay thuộc gia đình cộng sản với những người không đội trời chung với cộng sản, giữa những người đeo đuổi cách thức chống cộng khác nhau, giữa những ngừơi khác tôn giáo, khác tổ chức chính trị, khác hòan cảnh xã hội, … giữa quốc nội và hải ngọai. Vai trò của những thành viên Khối 8406 là tập hợp là kết nối là liên kết mọi cá nhân và lực lượng thành một Khối. Để từ đó phong trào đấu tranh dân chủ có thể vươn lên công khai, trực diện và chủ động giải thể thiểu số cầm quyền cộng sản.

Sáu năm qua mỗi bước tới của Khối 8406 là một bước lùi của thiểu số cầm quyền cộng sản. Vì thế đảng Cộng sản đã thẳng tay đàn áp Khối 8406. Hiện nay 25 thành viên của Khối đang ở trong tù và 27 thành viên khác của Khối đang bi bạo quyền cộng sản cô lập. Là một tổ chức đấu tranh quần chúng Khối 8406 sẽ tiếp tục sát cánh với đồng bào cho đến ngày Việt Nam tự do. Con đường đấu tranh cho đa nguyên đa đảng tại Việt Nam tuy khó khăn nhưng đích đến mỗi ngày một gần hơn.

Ở trong nước anh chị thành viên Khối đang ngày đêm trực diện với bạo quyền cộng sản. Ở hải ngọai chúng tôi nhận lãnh vai trò yểm trợ vì thế chúng tôi rất cần sự ủng hộ cả tinh thần lẫn vật chất để có thể hòan thành nhiệm vụ đã được Tổ Quốc giao cho.
Để phát triển sinh họat Khối 8406 tại hải ngọai, vào ngày thứ bảy 14/4/2012 Khối 8406 ra mắt tại tiểu bang New South Wales Úc Châu. Bài viết này được sửa sọan để thuyết trình trong buổi lễ ra mắt Khối 8406 tại tiểu bang New South Wales Úc Châu vào ngày thứ bảy 14/4/2012 vừa qua.

Melbourne, Úc Đại Lợi

16/4/2012

© Nguyễn Quang Duy
0

XÓA CẤM VẬN, WTO VÀ TPP NHỮNG CƠ HỘI CHO VIỆT NAM TỪ HOA KỲ

Bác Sĩ Hồ Hải


Mấy hôm nay trò chuyện với một số người có am hiểu về tình hình chính trị và kinh tế nước nhà. Họ tỏ ra lo ngại cho việc Việt Nam khi được vào Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương - TPP: Transpacific Partnership. Song những mối lo ngại ấy chỉ là những lo ngại vô căn cứ và thiếu hiểu biết. Nên tôi có ý định viết bài này, hòng giúp cộng đồng thấy cái lợi, cái trở ngại khi Việt Nam chỉ còn đúng 4 tháng nữa để được kết thúc tiến trình đàm phán như ông chủ tịch nước đã cam kết với ông Obama trong chuyến viếng thăm nhà Trắng cuối tháng 7/2013 vừa qua.

Những tốt đẹp sau xóa cấm vận

Tôi có may mắn chứng kiến sự gặp gỡ giữa ông Phan Tường Vân với ông Richard Holbrooke hồi những năm đầu thập niên 1990s để chuẩn bị cho việc Hoa Kỳ xóa cấm vận đối với Việt Nam. Hồi đó, ông Holbrooke chỉ chịu đồng ý đàm phán riêng với ông Phan Tường Vân cho việc xóa cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Một thông tin mà hầu như các thành viên còn lại của nhóm thứ Sáucủa cố thủ tướng Võ Văn Kiệt, cũng không hề hay biết. Giờ cũng là lúc nên bạch hóa công lao của ông Phan Tường Vân. Những gì công lao mà lịch sử chưa ghi nhận vì điều kiện cá nhân ông không cho phép, cũng nên ghi ra cho hậu thế. Vì tất cả 3 nhân vật lịch sử: Võ Văn Kiệt, Phan Tường Vân và Richard Holbrooke cũng đã trở về với cát bụi.

Cố tiến sỹ kinh tế Harvard Phan Tường Vân - 1936 - 2007 - người đã từ chối ra đi theo diện ưu đãi đặc biệt của Hoa Kỳ vì lý do cá nhân ông. Ông ở lại Việt Nam sống thầm lặng sau cải tạo về dạy kèm tiếng Anh để sống. Ông được cố thủ tướng Võ Văn Kiệt mời vào nhóm thứ Sáu để đưa ra sách lược cởi trói kinh tế Việt Nam, với một điều kiện là không được làm ồn ào tên tuổi cũng như những gì ông đã đóng góp cho nước CHXHCNVN cũng vì lý do riêng tư.Hình của Sài Gòn Tiếp Thị



Thế mà đến nay đã hơn 30 năm từ những ngày đầu ông Holbrooke đến Việt Nam và yêu cầu gặp trực tiếp ông TS Phan Tường Vân để bàn về vấn đề xóa cấm vận với Việt Nam. Và có thể nói, người đặt nền tảng to lớn nhất để Việt Nam có hôm nay không ai khác là Tiến Sỹ Phan Tường Vân - cựu cố vấn kinh tế vĩ mô cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Người mà tôi có nhắc đến trong bài, Gương sáng ngành Y, thầy tôi BS Phan Tường Hưng ở phần bàn luận.

Có nhiều những cam kết, trong đó, ba điều lợi lớn nhất mà bên phía Hoa Kỳ yêu cầu mang lại cho người dân Việt Nam là, công dân Việt Nam được visa phổ thông đi du lịch, làm ăn, du học ra ngoài lãnh thổ một cách tự do theo pháp luật hiện hành, mà 20 năm sau thống nhất đất nước người dân Việt Nam chưa bao giờ được hưởng.

Sau đó là, người dân Việt Nam được tự do đăng ký làm ăn theo đúng pháp luật, mà trước đây chỉ có đảng cộng sản và các tổ chức của nhà nước của đảng cầm quyền tạo ra mới được làm ăn kinh tế độc quyền mọi mặt, từ quán bán hàng nhu yếu phẩm - được gọi là quầy hợp tác xã - đến các công ty lớn.

Thứ ba là, cuộc cách mạng internet cũng mở ra cho người dân Việt Nam một cách nhìn rộng hơn về thế giới, mà trước đó, với chỉ là những thông tin ao tù nước đọng phát ra từ chiến lược dân vận ở các loa làng từ địa phương tới trung ương. Người dân Việt trước đó không khác gì dân Bắc Hàn hiện nay. Người hiểu biết buộc phải đánh cược số phận với biển cả, cướp biển để được sống đúng nghĩa. Kẻ nghèo và thiếu hiểu biết cam phận làm một cổ có đến vạn tròng từ địa phương đến trung ương.

Từ đó đến nay, đời sống người dân Việt đã khá lên rất nhiều so với cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 trở về trước. Lúc mà người dân thôn quê cũng như thành thị của Việt Nam thiếu vải đến mức, mùa đông giá rét phải dùng bao cát của lính Mỹ viễn chinh, làm lô cốt để may áo quần mặc tránh rét. Lúc mà chỉ mang 5kg gạo đi từ huyện này sang huyện khác cũng bị cho là gian thương. Mọi kinh doanh buôn bán chỉ có đảng cộng sản buôn bán là hợp pháp, dân buôn bán là buôn lậu là gian thương, là phản quốc. Bữa cơm nhà cũng không dám nấu cơm chỉ thuần gạo, mà phải độn khoai để chứng minh nhà mình thuộc loại bần cố nông cho chính quyền không gây khó dễ, và rất nhiều khổ cảnh khác về lý lịch vào đại học, hộ khẩu đi lại trong nước của thanh niên chúng tôi thời ấy, v.v... Nhìn lại vấn đề này, để thấy có được hôm nay là một bước tiến khá dài nhờ vào những yêu cầu phía Hoa Kỳ đối với chính quyền cộng sản ở Việt Nam.

Rồi sau đó, Việt Nam đã mất 11 năm chuẩn bị, mà trong đó mất 8 năm đàm phán để đến 2007, vào được WTO mở ra một cánh cổng mới. Cánh cổng này đã và đang dạy cho đảng, nhà nước và dân Việt cách chơi đúng luật quốc tế. Nhưng trong 8 năm qua, việc thực hiện tiến trình WTO của nhà nước Việt Nam chưa đạt được. Một nền kinh tế sao y bản chính của Trung Hoa - tăng đầu tư công và dựa vào xuất khẩu chủ yếu dùm cho hàng Trung Hoa để tính tăng trưởng GDP - đã đẩy cả Việt Nam và Trung Hoa vào thảm họa cả mọi lĩnh vực sa sút nghiêm trọng, đe dọa cả việc sụp đổ chính quyền.

Trong cam kết vào WTO của Việt Nam có cam kết về kinh tế thì Việt Nam cần cải tổ cổ phần hóa 93 doanh nghiệp nhà nước vào năm 2012, nhưng việc này chỉ thực hiện được có 12. Bây giờ ai cũng rõ, chính những doanh nghiệp nhà nước là con sâu đục cái thân còm cỏi của người dân Việt Nam, vì hoạt động kém hiệu quả, nhưng đầu tư quá nhiều, có đến 60% đầu tư làm nên nợ xấu từ các doanh nghiệp này.

Một nghịch lý của chung cho kinh tế Trung Hoa và Việt Nam là, doanh nghiệp nhà nước làm sụp đổ kinh tế dẫn đến có thể sụp đổ nền chính trị, nhưng không có chúng thì việc "chọn hiền tài" cho đảng cầm quyền lại khó khăn. Vì cái gọi là "chọn hiền tài" cho đảng cầm quyền ngày nay là phảilobby chính sách nhờ vào tiền tham nhũng lấy từ những đầu tư công cho các doanh nghiệp nhà nước. Bỏ chúng lấy đâu ra "nhân tài" lo cho đảng cầm quyền?

TPP rào cản ít nhưng cơ hội nhiều

Nếu tháng Năm năm 1994 Hoa Kỳ xóa cấm vận cho kinh tế và thương mại Việt Nam, nó như là một cánh tay chìa ra cứu vớt Việt Nam đang trong cơn nguy khốn bị Liên Xô bỏ rơi, phải sa vào vòng tay của một sở khanh Trung Hoa. Giờ đến cánh cửa TPP Hoa Kỳ lại mở ra cho Việt Nam một cơ hội rời khỏi vòng tay tên sở khanh Trung Hoa nhiều hơn là một cái để sợ sệt như một số người âu lo, e dè chưa dám đánh giá. Như vậy những rào cản và cơ hội ấy như thế nào?

Người ít hiểu biết cho rằng, nhân quyền là một yếu tố ràng buộc Việt Nam phải cải tổ một nền chính trị tốt hơn để được vào TPP. Nhưng đó là một trong những trạng thái tinh thần của lãnh đạo hai quốc gia ký kết với cái gọi là - 9 tuyên bố chung: Joint Statement - chứ không phải là Hiệp định chung - Joint Agreement. Từ trạng thái tinh thần hưng phấn tuyên bố với nhau trong lúc trà dư tửu hậu, đến lúc ràng buộc nhau thực hiện bằng hợp đồng ký kết 2 bên là một khoảng trống rất dài, nhiều khi không bao giờ thực hiện. Hay nói cách khác là những lời hứa hảo. Và nhân quyền không phải là rào cản cho Việt Nam được vào TPP, mà kinh tế và thương mại mới là chính.

Nếu tìm thông tin chính thống của đảng mọi người sẽ không tìm thấy bất kỳ một thông tin nào về những rào cản và cơ hội này. Có 3 rào cản cũng chính là 3 cơ hội lớn không thể bỏ qua.

Xuất siêu sang Hoa Kỳ tăng theo từng năm - Nguồn VOV


Rào cản đầu tiên cũng là cơ hội lớn là ràng buộc về nguồn gốc xuất xứ hàng xuất khẩu giữa các nước thành viên TPP. Trong thương mại 2 chiều giữa các thành viên quy định, hàng hóa xuất khẩu phải có nguồn gốc sản xuất từ 12 thành viên trong TPP. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam xuất khẩu lớn nhất hiện nay là 2 thị trường châu Âu và Hoa Kỳ. Năm 2012 Hoa Kỳ mang lại cho xuất siêu Việt Nam lên đến hơn 10% GDP - tương đương khoảng 14,8 tỷ USD/tổng GDP là 138.1 tỷ đô la trong năm 2012. Trong khi đó, nhập siêu với Trung Hoa chiếm đến hơn 11.5% GDP - tương đương 16 tỷ USD/138.1 tỷ đô la trong năm 2012.

Hai lĩnh vực xuất khẩu từ Việt Nam sang Hoa Kỳ là hàng may mặc, giày da và nông hải sản. Về thuận lợi hàng nông hải sản Việt Nam tự sản xuất tốt. Vấn đề tồn tại là vấn đề sử dụng phân bón, thức ăn và thuốc bảo vệ thực vật cho đúng cách, để vượt qua hàng rào kiểm soát của FDA. Vấn đề này trách nhiệm của các nhà khoa học và nhà nước cần phải tổ chức làm việc để có quy trình sản xuất hợp chuẩn.
Tỷ lệ phần trăm nguồn gốc nhập khẩu nguyên liệu cho ngành may mặc và giày da xuất khẩu của Việt Nam hiện nay - Hình của Cafef
Tỷ lệ phần trăm nguồn gốc nhập khẩu nguyên liệu cho ngành may mặc và giày da xuất khẩu của Việt Nam hiện nay - Hình của Cafef


Lĩnh vực xuất khẩu hàng may mặc và giày da hầu hết còn vướn ở nguyên liệu sản xuất. 23 năm qua sau Hội nghị Thành Đô - 1990 - ngành may mặc và giày da của Việt Nam hầu như bị lệ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. WTO mở ra một điều kiện quá tốt, các doanh nghiệp FDI - đầu tư trực tiếp từ nước ngoài - đã giết chết các doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu hàng dệt may và giày da của chúng ta bằng cách nhập hàng từ Trung Hoa, Hàn Quốc, Đài Loan chiếm tỷ trọng lớn nhất tương ứng 36%, 18% và 15%. Trong khi đó 2 đối tác trong TPP tương lai là Hoa Kỳ và Nhật chỉ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn lần lượt là 4% và 5%.

Như vậy, rào cản này sẽ giúp ngành dệt, sản xuất dâu tằm tơ, trồng bông của chúng ta sẽ sống lại, nếu muốn còn giữ được sản lượng xuất khẩu cao vào thị trường Hoa Kỳ. Qua đó, nó sẽ giúp ngành sản xuất nguyên liệu của Việt Nam phục vụ cho ngành may mặc và giày da tạo công ăn việc làm cho xã hội, giúp làm giảm tỷ lệ thất nghiệp mà khoảng 100 ngàn doanh nghiệp đã phá sản và ngưng hoạt động trong 3 năm qua. Nếu nhìn đúng đắn và khách quan thì đây không phải là rào cản, mà là cơ hội cho một nền kinh tế Việt Nam tự đứng để đi vững bền.

Nếu doanh nghiệp, nhà khoa học và chính quyền Việt Nam biết tận dụng cơ hội tốt, thì TPP sẽ còn làm cho các ngành sản xuất nguyên liệu, cũng như ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam có thể trở thành là một cường quốc của khu vực, chứ không chỉ có nông hải sản và may mặc giày da.

Rào cản thứ hai cũng là cơ hội hơn là rào cản là, khi vào TPP tất cả các công ty xuất khẩu hàng sang các nước thành viên buộc phải là các công ty không chịu dưới sự hỗ trợ của nhà nước về giá, vốn đầu tư. Nó sẽ là động lực buộc nhà nước Việt Nam xem kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế chính chủ đạo nền kinh tế quốc dân, mà lâu nay hiến pháp Việt Nam từ chối, trói buộc sức mạnh toàn dân, hòng độc quyền cai trị theo chính sách nghèo dân để trị. Đây là cơ hội cho doanh nghiệp tư nhân được rộng đường làm ăn, có sân chơi tương đối công bằng hơn, và học cách làm ăn lâu dài, có trách nhiệm với quốc gia dân tộc, hơn là kiểu làm ăn chụp giựt, thiếu tự trọng như hơn 20 năm qua. Đồng thời nó cũng là động lực góp phần cải tổ chính trị nửa dơi, nửa chuột của Việt Nam hiện nay.

Rào cản thứ ba cũng là cơ hội là, buộc các thành viên trong tổ chức TPP phải biết bảo vệ quyền lợi cho người lao động - giai cấp công nông mà lâu nay được đảng cộng sản cầm quyền luôn cho là tầng lớp lãnh đạo, nhưng là tầng lớp bị làm vật thế chấp chính trị và bị bóc lột thậm tệ nhất. Ràng buộc này buộc phải có các nghiệp đoàn độc lập với đảng cộng sản cầm quyền để kiểm soát quyền hành các ông chủ, và đem lại quyền lợi cho công nhân và nông dân. Nó sẽ góp phần không nhỏ để cải tổ chính trị Việt Nam trong tương lai, mà khó đánh giá được. Hãy nhìn từ các cuộc cách mạng từ Đông Âu sẽ rõ ràng của ràng buộc này. Công đoàn Đoàn kết Ba Lan đã giúp đất nước Ba Lan sáng lạng như hôm nay là một ví dụ. Hay nói đúng hơn, ràng buộc TPP thứ ba này là cơ hội của tổ quốc và dân tộc, nhưng là việc tháo vòng kim cô của chính quyền bị tên sở khanh Trung Hoa tráo trở đặt vào đầu 23 năm qua.

Kết thúc bài viết này chỉ còn là, việc đảng cộng sản đang cầm quyền ở Việt Nam có vì quốc gia dân tộc hay là vì lợi ích riêng tư của các thành viên đang kiếm lợi nhuận trên xương máu của đồng bào, cơ hội hay ràng buộc cũng từ nguyên nhân này mà ra. Cơ hội cho dân tộc và tổ quốc cũng là cơ hội cho đảng cầm quyền gở gạt lại uy tín không còn gì để mất. Nhưng nếu xem là ràng buộc thì, xem như nó cũng là lưỡi hái tử thần kết liễu sự cai trị độc tài của đảng cộng sản ở Việt Nam, trong lúc nền kinh tế với đầy nợ xấu không thể giải quyết đang giảm phát, nhưng lạm phát lại tăng cao từ tháng 8/2013 này.


Bác Sĩ Hồ Hải
^Xem Lại Trên